Đôi chút tâm tình lúc cuối đông

09/01/2021, 20:14

Đôi chút tâm tình lúc cuối đông - Tôi không có cách nào nói hết lòng tri ân của tôi và cũng không thể không bày tỏ lời cảm ơn tới Giáo sư Hà Minh Đức, nhà báo Hà Đăng và nhà báo TS Phạm Quang Nghị đã tới tham dự và phát biểu tại Tọa đàm "Nhà báo Phan Quang với báo chí cách mạng Việt Nam", qua đó chia sẻ với các bạn đôi chút tâm tình.

Nhà báo Phan Quang

Không thầy đố mày làm nên

Tôi không muốn làm mất thời gian của quý vị dự cuộc Tọa đàm và cũng chẳng có cách nào nói hết lòng tri ân của chúng tôi, dù vậy không thể không bày tỏ lời cảm ơn ba vị có mặt tại đây hôm nay, qua đó chia sẻ với các bạn đôi chút tâm tình. 

Trước hết, Giáo sư Hà Minh Đức. Ông là thầy giáo của tôi ở bậc đại học, dù về tuổi đời ông trẻ hơn tôi. Lứa chúng tôi lớn lên trong những năm tháng đau thương đất nước dưới ba tầng áp bức Pháp, Nhật và triều đình phong kiến, và cũng là thời hào hùng trong lịch sử dân tộc: tiền khởi nghĩa và Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công, kiến tạo chế độ dân chủ cộng hòa. Tôi đang học dở bậc trung học thì nghe Lời kêu gọi của Mặt trận Việt Minh, “xếp bút nghiên lên đường tranh đấu”. Tôi vào Đoàn Thanh niên cứu quốc, cùng đồng bào giành chính quyền tại huyện Hải Lăng và tỉnh Quảng Trị, trở thành anh “cán bộ thoát ly” ngay từ sau ngày ta nắm chính quyền. Tiếp đó là tham gia kháng chiến chống Pháp tại chiến trường Bình Trị Thiên. Việc học vậy là dang dở.

Đầu năm 1948, khi đã là đảng viên, tôi là một trong số mấy anh em được đồng chí Nguyễn Chí Thanh, Bí thư Phân khu ủy Bình Trị Thiên hồi bấy giờ chọn từ chiến khu và vùng địch hậu cho ra Bắc hoàn thành cấp trung học phổ thông, thời ấy gọi trung học chuyên khoa, chuẩn bị cho đi đào tạo tại nước ngoài.

Trớ trêu thay, hay là hạnh phúc thay cho đời tôi, sau thời gian cả tháng trời leo dọc Trường Sơn từ chiến khu Quảng Trị ra vùng tự do, rồi tiếp tục cuốc bộ đến tận vùng núi tỉnh Thanh, bên chân Núi Nưa nơi có đền thờ Bà Triệu thì có Quyết định của Ban Thường vụ Liên khu ủy IV điều về làm việc tại báo Cứu quốc xuất bản hằng ngày, bởi tòa soạn đang lúc thiếu người mà tôi có hé lộ chút khả năng văn báo. Tôi vào nghề báo với cái vốn kiến thức còm, phải cố gắng hết mình vừa làm vừa học, học việc học nghề, học cách đối nhân xử thế.

Sau ngày ký Hiệp định Genève năm 1954, tôi được cấp trên điều chuyển từ Liên khu IV về báo Nhân Dân chuẩn bị vào tiếp quản thủ đô, xuất bản báo hằng ngày. Việc học lại dang dở.

May sao, cái may lần này không phải trời cho mà nhờ chính sách của Đảng. Trường Đại học Tổng hợp mở khóa học tại chức Khoa ngữ văn, bồi dưỡng kiến thức cho một số cán bộ trẻ. Trong số học viên khóa ấy, nếu tôi nhớ không nhầm, có một số nhà văn đã ít nhiều thành danh như Nguyễn Khải, Hồ Phương, Nguyên Ngọc..., về báo chí riêng báo Nhân Dân có Hà Đăng, Diên Hồng, Phan Quang, hình như cả Hữu Thọ nữa... Các giáo sư dạy khóa học ấy là các nhà sư phạm, nhà văn hóa tên tuổi, có những thầy lớn tuổi như Bạch Năng Thi, Hoàng Xuân Nhị từ nước ngoài về, và cũng có những giảng viên trẻ như Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức...

Thầy Đức và trò Quang, có lẽ do có nét chung là thầy và trò đều đam mê văn chương cho nên vừa là thầy trò vừa là bằng hữu, tương tự Chế Lan Viên và Hoàng Tùng[1] những năm kháng chiến chống Pháp. Năm 1990, khi Giáo sư Hà Minh Đức làm Viện trưởng Viện Văn học, lại được cấp trên giao thêm nhiệm vụ cùng mấy thầy, cô giáo nữa đặt những viên gạch đầu tiên kiến tạo Khoa Báo chí, tiền thân của Viện Đào tạo Báo chí và Truyền thông Trường đại học Khoa học xã hội và nhân văn Đại học Quốc gia Hà Nội ngày nay, trong khi tôi làm việc ở Hội Nhà báo và Đài Tiếng nói Việt Nam. Do quan hệ công tác và cảm nghĩ có những điểm tương đồng, mối quan hệ thầy và trò, giáo sư và nhà báo ngày càng gắn bó.

Vào cuối thập niên 1990, chuẩn bị mừng ông bạn cổ lai hy, người bạn cùng quê là nhà văn Ngô Thảo hôm nay cũng có mặt tại Tọa đàm, đã dành thời gian “đọc hai bao tải báo và sách cũ của Phan Quang” (lời anh viết trên báo Nhân Dân), từ đó lựa chọn chừng 2000 trang, in Tuyển tập Phan Quang gồm 3 tập. Giáo sư Hà Minh Đức đã bỏ công đọc gần 2000 trang vừa đánh máy lại để viết Lời giới thiệu Nhà báo, nhà văn Phan Quang - một công trình nghiên cứu tốn nhiều công sức, từng in lại nhiều lần và được các nhà nghiên cứu trích dẫn khi cần viết đôi lời về cuộc đời nghề nghiệp của Phan Quang.

Giáo sư, nhà giáo nhân dân Hà Minh Đức Viện trưởng Viện Văn học, và Giáo sư, nhà giáo nhân dân Lê Quang Thiêm Chủ tịch Hội Ngôn ngữ học Việt Nam, là hai thầy cách đây mười mấy năm đã hướng dẫn hai sinh viên cao học bảo vệ thành công hai luận văn thạc sĩ đầu tiên về cuộc đời nghề của Phan Quang: “Tác phẩm ký báo chí của nhà báo Phan Quang”, luận văn thạc sĩ báo chí học của Hoàng Thu Hằng, và “Bước đầu khảo sát trường từ vựng - ngữ nghĩa về Quê hương và Thời cuộc (một chương) trong Tuyển tập Mười năm 1998-2008 của nhà báo Phan Quang”, luận văn thạc sĩ ngữ văn của Nguyễn Thị Thu Phương.

“Không thầy đố mày làm nên”. Đó là nhận thức, là tâm nguyện suốt cả cuộc đời tôi. Tọa đàm hôm nay là cơ hội cho tôi được trực tiếp bày tỏ lòng biết ơn Giáo sư Hà Minh Đức về những gì ông đã làm, đã viết về người học trò, đặc biệt những ý kiến thắm đậm nghĩa tình Giáo sư vừa phát biểu.

Không thầy đố mày làm nên. Học suốt đời, học thầy học bạn, học từ sách báo, từ cuộc sống, đó là đường đi của Phan Quang 80 năm qua, từ ngày mới lớn cho đến hôm nay.

Nhà báo Phan Quang và các đồng nghiệp tại tọa đàm

Biết ơn cây đa cổ thụ phố Hàng Trống

Người thứ hai tôi muốn bày tỏ tâm đắc là nhà báo Hà Đăng sau khi nghe mấy lời phát biểu của anh, người bạn thân thiết suốt 65 năm tính từ khi tôi và anh, người từ Liên khu IV người từ Liên khu V lần lượt về ngôi nhà có cây đa cổ thụ phố Hàng Trống, trụ sở báo Nhân Dân. Thi thoảng Hà Đăng và Phan Quang gặp nhau, chúng tôi thường gợi lại những ngày đầu về thủ đô. Ba anh em Hà Đăng, Phan Quang và một nhà báo Nam Bộ tập kết ra Bắc cùng sống trong căn phòng rộng 16m2 tại ngõ phố Lý Thường Kiệt. Mấy ngôi nhà chật chội cuối ngõ phố ấy là nơi cư ngụ nhiều nhà báo tên tuổi như Nguyễn Thành Lê, Quang Đạm, Hà Xuân Trường, Trần Các, Nguyễn Đức Thi, Lê Điền, Hà Hoa, Diệu Bình, Tân Phương, Huỳnh Hùng Lý, Đặng Minh Phương, Vũ Oánh, Lê Khánh Căn, Trần Thanh Phương…, tất cả đều đã thành người thiên cổ trừ mỗi một người.

Từ cuối thập niên 1950 đến giữa những năm 1960, khi giặc Mỹ chưa leo thang ra miền Bắc, Hà Đăng và Phan Quang làm việc tại Ban Nông nghiệp và Công tác nông thôn báo Nhân Dân do Lê Điền rồi Phan Quang phụ trách. Đó là Ban biên tập có đông nhà báo hơn tất cả các ban của báo Đảng hồi bấy giờ. Chúng tôi đi nhiều nơi với chiếc xe đạp cà tàng, xắn quần lội ruộng, học hỏi người dân, trõm mắt viết bài.

Tôi xin kể mẩu chuyện nghề nghiệp mà các bạn trẻ chắc chẳng mấy ai tường. Năm 1960 Bác Hồ bảo Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam kiêm nhiệm Trưởng Ban Nông thôn Trung ương: “Miền Bắc đã hoàn thành hợp tác hóa mà sản xuất cứ trầm trầm. Chú hãy tìm cho ra một hợp tác xã làm ăn giỏi, đúc kết kinh nghiệm, rút ra những bài học, từ đó nhân lên thành phong trào”.

Thực hiện chỉ thị của Bác Hồ, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh bôn ba gần khắp miền Bắc, tìm chọn hợp tác xã điển hình tiên tiến. Cuối tháng 10 năm 1959 tôi vào Quảng Bình viết về hợp tác xã Mỹ Phước thuộc xã Phong Thúy, huyện Lệ Thủy, giới thiệu kinh nghiệm một hợp tác xã nông nghiệp kinh doanh nhiều ngành nghề. Cuối năm 1960, khi hợp tác xã ấy đã lớn dần lên do hợp nhất nhiều tổ chức cùng xã và trở thành hợp tác xã Đại Phong, anh Hà Đăng vào Quảng Bình dự hội nghị tỉnh đúc kết kinh nghiệm làm ăn tập thể, sau đó về Đại Phong viết bài “Ba lần đuổi kịp trung nông”, đăng báo Nhân Dân số ra ngày 09/01/1961. Đúng vào dịp này tại Hà Nội, Ban Công tác Nông thôn Trung ương chủ trì Hội nghị tổng kết hợp tác hóa nông nghiệp toàn miền Bắc. Đọc bài của Hà Đăng, Bác Hồ viết luôn bài “Một hợp tác xã gương mẫu” ký Trần Lực, cho đăng lên báo Đảng số ra ngày 11/01/1961.

Bộ Chính trị mở phiên họp chuyên đề, nghe đồng chí Nguyễn Chí Thanh trình bày, trao đổi ý kiến về hợp tác xã Đại Phong rồi quyết định cho ngành nông nghiệp phát động phong trào thi đua yêu nước. Tết Tân Sửu 1961, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh dẫn đoàn cán bộ, chuyên gia nông nghiệp từ Hà Nội vào Quảng Bình nghiên cứu sâu hơn về Đại Phong[2], sau đó có bài phát biểu đúc kết kinh nghiệm đăng báo Nhân Dân, nhan đề “Hoan nghênh hợp tác xã Đại Phong”[3].

“Ngọn gió Đại Phong”, mà nội dung là “Học tập, đuổi kịp và vượt hợp tác xã Đại Phong”, nhanh chóng lan tỏa khắp miền Bắc. “Gió Đại Phong” hài hòa với “Sóng Duyên Hải” - tên một xí nghiệp cơ khí tại Hải Phòng, “Cờ Ba nhất” - phong trào thi đua trong Quân đội nhân dân, góp phần xây dựng hậu phương lớn của nước ta.

Bài “Ba lần đuổi kịp trung nông” được trao Giải thưởng Hội Nhà báo Việt Nam.

Từ ngôi nhà chung nấp bóng cây đa phố Hàng Trống, lớp trẻ chúng tôi như Lê Điền, Hà Đăng, Phan Quang, Trần Minh Tân, Hữu Thọ, Văn Sơn, Lê Thọ, Hồ Vân, Tâm Trung... (có cả một số nhà cách mạng lão thành từng vào tù ra tội như Lưu Động, Dương Khánh tên thật là Đào Năng An) trưởng thành, nhờ noi gương các bậc đàn anh Hoàng Tùng, Quang Đạm, Nguyễn Thành Lê, Hà Xuân Trường…, và đặc biệt cùng được sự dạy bảo trực tiếp của Chủ tịch Hồ Chí Minh, sự chỉ đạo thường xuyên của đồng chí Trường Chinh theo phân công của Bộ Chính trị.

Chúng tôi biết ơn những năm tháng ở báo Nhân Dân, tôi 28 năm, anh Hà Đăng còn lâu hơn thế. Từ một phóng viên chân đất Hà Đăng trở thành Tổng Biên tập báo Đảng thế chân Hồng Hà cùng lứa tuổi và cũng xuất thân từ phóng viên, tiếp sau Hà Đăng là Hữu Thọ... Chúng tôi biết ơn những năm tháng làm việc dưới bóng cây đa cổ thụ cạnh bờ Hồ Gươm, nơi giúp mấy thế hệ nhà báo nâng cao kiến thức, trưởng thành nghề nghiệp, thực hiện lời dạy của Bác Hồ: “Nhà báo cũng là chiến sĩ”, “Viết cho ai? Viết để làm gì? Viết như thế nào?”, “Có phê bình phải có tự phê bình”, v.v..

Cảm ơn những lời tình nghĩa anh Hà Đăng. Hai chúng tôi đã sát cánh bên nhau 70 năm, nếu trời cho còn sống và còn sức khoẻ, chúng tôi nguyện đi tiếp con đường Bác Hồ vạch cho báo chí, truyền thông.

Cõi người có hạn, tâm người vô cùng

Cảm ơn nhà báo, Tiến sĩ Phạm Quang Nghị, nguyên Bộ trưởng Bộ Văn hóa Thông tin, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội hai nhiệm kỳ, vào thời gian Thủ đô mở rộng địa giới hành chính và kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội , hé lộ nhiều cơ hội và đặt ra không ít thách thức trong quá trình xây dựng thủ đô hòa bình, thanh lịch, sạch đẹp, văn minh, qua những lời nồng thắm của anh đối với người bạn cao tuổi.

Về tuổi đời, tôi lớn hơn anh Phạm Quang Nghị, cách nhau gần một thế hệ như lời anh vừa nói, nhưng chúng tôi từng có thời gian làm việc gần nhau tại Ban Tuyên huấn Trung ương. Hồi ấy, mỗi lần cấp trên ngỏ ý muốn điều Phan Quang rời báo Nhân Dân sang làm quản lý một cơ quan báo chí khác, tôi đều bày tỏ ý nguyện xin được suốt đời làm một chân phóng viên, và lần nào cũng được chấp thuận. Tiếc thay, chạy trời không khỏi nắng. Năm 1982 nhà báo, nhà văn hóa Lưu Quý Kỳ, Vụ trưởng Vụ Báo chí Ban Tuyên huấn Trung ương kiêm Tổng Thư ký Hội Nhà báo Việt Nam đột ngột quy tiên trong một chuyến đi công tác nước ngoài. Ban Bí thư Trung ương quyết định điều Phan Quang từ phố Hàng Trống sang phố Hoàng Văn Thụ, làm việc tại ngôi nhà cổ kính vốn là Trường trung học Albert Sarraut thời Pháp thuộc, thế chân anh Lưu Quý Kỳ.

Tại ngôi nhà ấy tôi có dịp làm việc với nhiều đồng chí có kinh nghiệm quản lý văn hóa, tư tưởng, báo chí, truyền thông, trong số đó có anh bạn trẻ Phạm Quang Nghị vừa bảo vệ thành công luận án Phó tiến sĩ triết học tại Liên Xô về nước, làm thư ký cho Trưởng ban Đào Duy Tùng. Trong khoảng thời gian tôi làm Phó Tổng thư ký rồi Tổng thư ký, Chủ tịch Hội nhà báo Việt Nam từ đầu nhiệm kỳ IV (năm 1984) đến cuối nhiệm kỳ VI (năm 2000), có thời Tiến sĩ Phạm Quang Nghị với tư cách Phó Trưởng ban Tuyên huấn Trung ương được phân công phụ trách công tác báo chí và chỉ đạo Hội nhà báo. Mỗi lần nói chuyện, trao đổi công việc với cấp dưới là Phan Quang, cấp trên Phạm Quang Nghị vẫn xưng em và ông anh bao giờ cũng nghiêm túc thi hành ý kiến của ông em.

Trừ mười năm anh đảm đương trọng trách một nhà lãnh đạo cao cấp của Đảng, Nhà nước, tôi giữ ý ít đến nhà riêng Phạm Quang Nghị, sợ làm mất thời giờ vàng ngọc của nhà lãnh đạo. Sau ngày anh được nghỉ công tác hai chúng tôi lại thành bạn văn, bạn báo, đồng chí, đồng nghiệp thân thiết. Hôm  bạn hữu của anh tổ chức buổi gặp mặt giới thiệu cuốn sách Phạm Quang Nghị vừa phát hành “Nơi ấy là chiến trường”, tôi dù đang mệt vẫn bảo cháu đưa đến dự. Viết xong bài cảm nhận về cuốn sách của anh, tôi cầm bản thảo đến nhà trao đổi ý kiến với tác giả trước khi cho đăng báo. Các buổi họp mặt, tọa đàm, như lần giới thiệu “Phan Quang, 90 tuổi đời 70 tuổi nghề”, hay “Bác Hồ người có nhiều duyên nợ với báo chí”, anh Phạm Quang Nghị đều đến dự. Cũng như lần này, nhận được lời mời phát biểu là anh ngồi luôn vào bàn ghi đôi ý kiến, vì chưa kịp cho đánh máy sáng nay anh phải “nói vo”.

Tôi vẫn nghĩ, trong cuộc sống dù có cấp trên cấp dưới nhưng dưới hay trên đều là đồng chí, đồng nghiệp, bằng hữu cùng chí hướng, cấp dưới cấp trên đều gắn bó với nhau bởi tình người.

“Trăm năm trong cõi người ta” - thi hào Nguyễn Du viết. Cõi người giới hạn trăm năm. Ngày nay có nhiều cụ vượt qua ngưỡng ấy, và đó là niềm vui của cả cộng đồng. Tuy nhiên tôi vẫn nghĩ, một khi đời người đã vượt “nhân sinh bách tuế vi kỳ” thì cho dù có tồn tại trên cõi thế, những đóng góp của các cụ cho đất nước chắc không nhiều.

“Trăm năm trong cõi người ta”, cõi người hữu hạn tình người vô cùng. Cái tình giữa người với người, cái nghĩa của người với bạn, cái tâm cái đức trong nghề báo nghiệp văn, tấm lòng biết ơn nhân dân, đất nước, tri ân Chủ tịch Hồ Chí Minh là vô hạn vô cùng, như dòng chảy thời gian vậy.

Cõi người, tình người là sợi dây gắn bó chúng ta không nệ tuổi tác vượt lên thời gian đi tiếp những chặng đường đáng yêu, đáng sống.

Phan Quang

[1] Bút danh của Phan Quang những năm làm báo Cứu quốc Liên khu IV,

[2] Phan Quang với tư cách Phó Trưởng ban Nông nghiệp báo Nhân Dân có tham gia đoàn cán bộ này,

[3] Bài nhiều năm sau được in lại toàn văn trong sách “Đại tướng Nguyễn Chí Thanh -Tổng tập”, Nxb. Quân đội nhân dân Hà Nội, 2009, tr. 502-530.

Bình luận